Nghĩa Hành – Đất và Người

725

Địa lý
* Diện tích: 234,12 km²
* Dân số: 100.444 người. Mật độ 429 người/km2 (năm 2006)
* Dân tộc: Kinh (Việt), H’re, CaDong
* Huyện chia làm 11 xã và 1 thị trấn đó là thị trấn Chợ Chùa và các xã: Hành Dũng, Hành Thuận, Hành Trung, Hành Minh, Hành Nhân, Hành Đức, Hành Phước, Hành Thịnh, Hành Thiện, Hành Tín Tây, Hành Tín Đông.
* Sông Vệ chảy qua huyện với chiều dài khoảng 30km, sông Phước Giang khoảng 20km. Đường tỉnh 627 qua suốt chiều dọc huyện, 14 tuyến đường huyện dài 74km. Đường xe lửa Bắc Nam qua địa phận huyện hai đoạn ngắn.

Nghĩa hành là một huyện của tỉnh Quảng ngãi, cách tỉnh lỵ 9km về phía tây nam, bắc và đông bắc giáp Tư Nghĩa, Nam giáp huyện Ba Tơ và Mộ Đức, tây giáp huyện Minh Long, đông và đông – nam giáp huyện Mộ Đức.

Địa hình nghĩa hành không thuần nhất. Phía tây có nhiều đồi núi, thung lũng, giống trung du. Phía đông, tuy còn rải rác nhiều gò đồi nhưng địa hình thoái dần và hòa vào đồng bằng rộng lớn của các huyện Tư Nghĩa và Mộ Đức.

Đồi núi có hai nhánh. Phía Bắc sông Vệ, dọc ranh giới Minh Long – Nghĩa Hành có núi Đầu Tượng (cao 692m), núi Kỳ Lân (922m), núi Muồng, núi Hồng Bà (Hành Dũng và Hành Nhân), núi Đình Cương (Hành Đức) với những Hang Hổ, đèo Chim Hút, hố Bà Năm, đèo Eo Gió, đèo Đá Bàn với nhiều truyền thuyết. Phía Nam sông Vệ có núi Ôn Lãnh (673m), núi Tai Mèo (607m), núi Giàng (còn gọi là núi Nhàn) đều nằm ở Hành Tín, Hành Thiện và tạo ranh giới thiên nhiên giữa Nghĩa Hành và Mộ Đức. Ngòai ra còn có nhiều đồi núi thấp nhỏ như núi Ngang, núi Huỳnh, núi Nhà, núi Rố, núi Châu Me và các đèo Đá Chát, đèo Lộc Lãnh, đèo Quán Thơm, đèo Lỗ Tây, đèo Mễ Sơn gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử.

Tượng đài chiến thắng Đình Cương

Tượng đài tưởng niệm chiến thắng Đình Cương


Trên đỉnh đèo Đá Chát và Núi Đình Cương – Ảnh GK

Núi rừng Nghĩa Hành xưa có nhiều gỗ quí như sến, nhụ, huỳnh đàn, sơn, xoay … đặc biệt có nhiều loại cây có dầu gọi là cây dầu rái. Thú rừng có gấu, hổ, nai, mang, heo rừng… chim có công, trĩ, khứu .. Do nạn phá rừng nối tiếp nhiều thế kỷ và sau này do chất độc hóa học của đế quốc Mỹ hủy diệt, cây cối cạn kiệt, chim thú hầu như bị tiêu diệt.

Nằm cách biển 7km theo đường chim bay, Nghĩa Hành không có bờ biển nhưng có hai hồ lớn là Bàu Lát và La Băng (còn gọi là Sa Băng). Dựa vào ván thuyền, neo thuyền loại lớn thỉnh thoảng bắt gặp, người ta cho rằng từ xa xưa nơi này từng là vũng sâu nối liền với biển cả, bị bồi lấp lâu đời, đường thông bị mất trở thành hồ khép kín. Có 2 con sông chảy qua phần phía nam và bắc huyện. Sông Vệ, một trong bốn con sông lớn của Quảng Ngãi, bắt nguồn từ Ba Tơ, len lách qua các dãy núi non hiểm trở rồi xuyên qua địa phận các xã Hành Tín, Hành Thiện, Hành Thịnh, Hành Phước trước khi chảy qua các xã đồng bằng Mộ Đức – Tư Nghĩa rồi đổ ra biển. Sông Phước Giang (sông Văn) nhỏ hơn, bắt nguồn từ Long Sơn (huyện Minh Long) chảy qua Kim Thành (Hành Dũng) hợp với sông Giăng (bắt nguồn từ đèo Chim Hút) tạo thành dòng lớn chảy qua Hành Dũng xuống Hành Minh rồi chia hai ngã đi Hành Thuận và Hành Đức, Hành Trung. Cũng giống như các sông khác ở miền trung, sông Vệ và sông Phước Giang đều ngắn và dốc. Mùa mưa thường đầy ắp nước, chảy xiết, gây lũ lụt lớn, phá hoại nhiều nhà cửa, mùa màng. Về mùa nắng hai dòng sông nước cạn, chảy chậm. Hai con sông này là nguồn nước và nguồn phù sa quan trọng cung cấp cho ruộng lúa, nương dâu xanh tốt. Sông Vệ còn là đường giao thông quan trọng giữa miền xuôi và miền ngược trước đây. Ngoài ra còn hệ thống kênh thạch nham đưa nước về hầu hết trên các cánh đồng của huyện.


Một góc Bàu Lát – Ảnh GK

Nghĩa Hành nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khắc nghiệt như các tỉnh, huyện khác ở miền Trung. Nhiệt độ trung bình khoảng 26oC. Nhiệt độ trên gắn liền với hai mùa mưa nắng khá rõ rệt. Mùa nắng dài hơn, thường bắt đầu từ tháng 2 đến thượng tuần tháng 9, có lúc nhiệt độ lên đến 37, 38 độ. Mùa mưa ngắn hơn, bắt đầu từ hạ tuần tháng 9 đến thượng tuần tháng giêng. Lượng mưa hàng năm ở Nghĩa Hành lớn hơn các huyện đồng bằng lân cận, trung bình khoảng 2.200mm, và thường tập trung vào 4 tháng cuối năm. Bão tố thường diễn ra từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm, nhưng nhờ nằm sâu trong đất liền và núi non che chắn nên ít bị thiệt hại nặng như các huyện lân cận ở ven biển.

Lịch sử
* Nghĩa Hành là một phần đất của huyện Nghĩa Giang. Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), tháng 6, vua Thánh Tông lấy đất Chiêm Thành vừa chiếm lại đặt đạo Thừa tuyên Quảng Nam. Đạo Thừa tuyên nầy là 1 trong số 13 đạo thừa tuyên trong nước, thống lãnh 3 phủ, 9 huyện trong đó có phủ Tư Nghĩa gồm 3 huyện: Bình Dương (sau đổi thành Bình Sơn), Mộ Hoa, (đời Thiệu Trị đổi Mộ Đức) và Nghĩa Giang.
*Địa danh “Nghĩa Hành” xuất hiện lần đầu tiên vào năm Thành Thái thứ 2 (1890), tỉnh Quảng Nghĩa ngoài 3 huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa và Mộ Đức thuộc phủ Tư Nghĩa, thực dân Pháp còn đặt thêm 3 châu: Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Đức Phổ thuộc Nghĩa Định Sơn Phòng. Đất Nghĩa Giang được sáp nhập vào Tư Nghĩa và Nghĩa Hành.
(Theo “non nước xứ Quảng” của Phạm Trung Việt)

*Các nhân vật lịch sử:
-Lê Khiết (tức Lê Tựu Khiết-Hành Thịnh), Nguyễn Công Phương (Hành Phước), Võ Duy Ninh (Đại An, Hành Thuận, VDN từng giữ chức Hộ Đốc thành Gia Định và tuẫn tiết khi thành Gia Định mất- Ở Bình Thạnh, TP HCM có đường Võ Duy Ninh), Lê Trọng Khanh (An Chỉ-Hành Phước, LTK làm đến chức Án sát cuối đời Tự Đức, sau Nguyễn Thân ép LTK tham gia lãnh đạo chống Phan Đình Phùng, LTK từ chối không được bèn thắt cổ tự vẫn ở Thu Xà, cháu nội LTK là thi sĩ Bích Khê tức Lê Quang Lương, cùng với Hàn Mặc Tử là trụ cột của trường thơ loạn, xem thêm Thi Nhân Việt Nam)

Lê Khiết
Tượng cụ Lê Khiết tại sân trường PTTH chuyên Lê Khiết. Ảnh: quangngai.gov.vn

Năm 1402, vua Chămpa là Ba Đích Lại (Jaya Shinhavarman V; cg. Bố Để) nhường đất Chiêm Động (nay là phần lớn tỉnh Quảng Nam) và Cổ Lũy Động (tương đương tỉnh Quảng Ngãi) cho nhà Hồ. Nhà Hồ thiết lập các Châu Thăng, Hoa (Chiêm Động), Tư, Nghĩa (Cổ Lũy Động) thuộc lộ Thăng Hoa; phong Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa; Chế Ma Nô Đà Nan (người Chăm) làm Cổ Lũy huyện thượng hầu, trấn giữ châu Tư, châu Nghĩa.
Năm 1471, nhà Lê thiết lập đạo thừa tuyên Quảng Nam (nay là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và thành phố Đà Nẵng), gồm 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhân. Phủ Tư Nghĩa nay là tỉnh Quảng Ngãi.

Thời Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận – Quảng Tư Nghĩa phủ được đổi thành Quảng Nghĩa Phú. Nghĩa Hành là bộ phận của Quảng Nghĩa phủ.

Thời Tây Sơn đây là một bộ phận của Hoà Nghĩa phủ, thời Gia Long thuộc Quảng Nghĩa dinh. Năm Minh Mạng thứ 10 (1829) đổi dinh trấn thành tỉnh hạt, Quảng Nghĩa dinh thành Quảng Nghĩa tỉnh, có 3 huyện Bình Sơn. Chương Nghĩa và Mộ Hoa. Đất Nghĩa Hành là một phần của huyện Chương Nghĩa.

Thành Thái năm thứ 2 (1890) đặt thêm 2 châu Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Đức Phổ. Từ đó địa danh Nghĩa Hành chính thức ra đời, nhưng địa lý hành chính là nữa phần phía nam của huyện Chuơng Nghĩa được tách ra bao gồm : các thôn, xã nằm ở phía bắc sông Vệ và huyện Minh Long hiện nay. Năm Thành Thái 11 (1899) tách Minh Long làm đồn và xem là đơn vị hành chính riêng biệt, lại lấy thềm phần đất phía tây huyện Mộ Đức dọc phía nam sông Vệ (gồm 3 xã Hành Thinh, Hành Thiện, Hành Tín hiện nay) hợp với phần phía bắc đã có lập thành địa lý hành chính ổn định của huyện Nghĩa Hành từ đó đến nay.

Dưới chế độ thực dân – phong kiến, huyện Nghĩa Hành được chia làm 3 tổng : Hành Trung, Hành Thượng, Hành Cận với 61 xã, thôn lớn nhỏ khác nhau. Sau cách mạng tháng 8/1945, huyện Nghĩa Hành mang tên huyện Lê Đình Cẩn – Tên một chí sĩ yêu nước huyện nhà – Một thời gian rồi lấy tên Nghĩa Hành lại như cũ. Cũng từ sau cách mạng tháng 8, đơn vị hành chính cấp tổng được xóa bỏ, các xã, thôn được nhập lại thành xã lớn.

Con người

Chúng ta chưa đủ cứ liệu để hiểu nguồn gốc, biến đổi của con người thời Việt Thường Thị. Từ thời Bắc thuộc đền nhà Hồ, người bản địa bao gồm nhiều bộ tộc khác nhau có ngữ hệ Môn-Khơ me, dòng Nam Á, và một thời gian khá dài sống trong hai vương quốc Lâm Ấp và Chiêm Thành nối tiếp nhau. Họ có ngôn ngữ đa âm, ở nhà sàn, biết trồng lúa, có phong tục tập quán và nên văn hóa riêng. Riêng dân tộc Chăm đã có chữ viết, có nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc độc đáo, biết đóng thuyền và tổ chức giao thông trên biển.

Người Việt đã có mặt ở đây từ thời Lý – Trần (1010-1400), nhưng mới chỉ rất ít người đi lại trao đổi hàng hoá; về sau có thêm các cơ binh đồn trú và tù nhân bị đày đi viễn châu được tổ chức thành đơn vị đưa đến khai phá các vùng đồi núi, tạo lập các trang trại mới, canh tác theo phương thức ở quê hương.

Thời Nguyễn Hoàng và trấn thủ Thuận – Quảng, có thêm người học vấn, có nghề nghiệp giỏi, thạo việc nông trang, thuỷ lợi được nhà nước phong kiến chiêu mộ, tuyển lựa đưa vào. Đặc biệt từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh (1613-1773), nhân dân Đàng Ngoài nhất là nhân dân Thanh, Nghệ, căm ghét chúa Trịnh, ồ ạt kéo vào Đàng Trong. Chúa Nguyễn cũng đã nhiều lần kéo quân ra đánh phá và bắt dân nhiều làng, không kể già trẻ, trai gái đưa vào Nam. Giống với các tỉnh, huyện miền Nam Trung Bộ, những thế hệ người Việt nối tiếp nhau đến Nghĩa Hành, sống hoà hợp và tiếp thu một số tinh hoa của người bản địa, lo việc định cư, khai khẩn đất đai, thiết lập cuộc sống gia tộc theo truyền thống văn hoá vốn có, hình thành các khu dân cư đông đúc với nhiều dòng họ lớn và trở thành tiền hiền, hậu hiền của các làng xã.
(còn tiếp)
Du lịch
* Di tích vụ thảm sát Khánh Giang – Trường Lệ đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng.
* Đình An Định là di tích kiến trúc cổ nhất trong các đình lầng còn tồn tại ở Quảng Ngãi đã được xếp hạng di tích quốc gia.
* Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng đã qua đời tại TT Chợ Chùa và được chôn cất trên Núi Thiên Ấn.
* Làng Việt cổ dưới chân núi Dâu- Hành Tín Đông
http://www.mientrung.comcontent/view/5331/37/
*Dấu tích nhà Tây Sơn trên đất Nghĩa Hành http://www.phahe.vn/Knowledge_Detail…contentID=6001
*Dấu tích tháp Chàm cổ ở Hành Phước http://www3.vietnamnet.vn/vanhoa/tintuc/2006/08/598285/
*Di chỉ VH sa Huỳnh ở Gò Quánh-Hành Nhân được phát hiện năm 1992, trong khu nghĩa địa thuộc xã Hành Nhân. Trong khi đào huyệt mộ, người ta đã phát hiện đuợc các công cụ bằng đá thuộc văn hoá khảo cổ học Sa Huỳnh, đó là: cuốc làm bằng đá diệp thạch, dài đến 17,26cm có lưỡi xoè rộng đến hơn 10cm; rìu đá bằng đá silic xám xanh được mài toàn thân.
Theo vietgle http://www.vietgle.vn/beta/default.a…3%A1nh&type=A0


Dấu tích phần đế tháp Chàm tại khu vực Gò Lồi, thôn An Chỉ Tây, xã Hành Phước. Ảnh: VietnamNet

Ghi chú:
-Nguồn: wikipedia, Lịch sử đảng bộ huyện Nghĩa Hành (Các số liệu thống kê địa lý năm 1996), www.quangngai.gov.vn
-Võ Duy Ninh trên wiki http://vi.wikipedia.org/wiki/Võ_Duy_Ninh
-Hiện nay chúng tôi và một số thành viên của mạng bách khoa toàn thư mở wikipedia VN đang cố gắng viết bài về Nghĩa Hành (đất và người) trên wikipedia. Mong các bạn đóng góp thêm tư liệu về Nghĩa Hành cũng như cho ý kiến về tính chính xác trong bài viết.
Các bài trên wiki đang cần bổ sung tài liệu:
+Chợ Chùa http://vi.wikipedia.org/wiki/Chợ_Chùa
+Nghĩa Hành http://vi.wikipedia.org/wiki/Nghĩa_Hành
+Lê Khiết http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Khi%E1%BA%BFt
+Nguyễn Công Phương: chưa đủ tài liệu để viết.
-Rất mong sự đóng góp của các bạn cho quê hương Nghĩa Hành và cho mạng tri thức mở wikipedia. Trân trọng.

BÌNH LUẬN