Lê Khiết- Người con của xã Hành Thịnh

396

Theo tài liệu lịch sử của tỉnh Quảng Ngãi và xã Hành Thịnh (huyện Nghĩa Hành) ghi lại, cụ Lê Khiết (tức Lê Tựu Khiết), hiệu Dương Phong, tự Huy Khanh, sinh ngày 21/6/1857, quê ở làng An Ba, xã Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Đỗ cử nhân năm Nhâm Ngọ 1882 tại trường thi Bình Định, làm quan đến chức Bố Chánh.

Cụ Lê Khiết sinh ra trong một gia đình khoa bảng. Ông nội là Lê Công Thiên, giữ chức Kiến An phủ trưởng (quan tri phủ Kiến An) đời Gia Long. Cha là Lê Văn Diễn, chức quan tuần phủ, đỗ tú tài năm Bính Ngọ 1846 (đời Thiệu Trị thứ 6), đỗ cử nhân năm Mậu Thân 1848 (đời Tự Đức nguyên niên). Ông Lê Văn Diễn là một vị quan thanh liêm, đức độ. Trong 14 năm làm quan của mình ông đã để lại nhiều điều tốt trong dân chúng.

Cụ Lê Khiết vốn có tư chất thông minh, khẳng khái. Ba năm sau khi thi đỗ cử nhân, năm Ất Dậu 1885 (năm Hàm Nghi nguyên niên), cụ được triều đình bổ nhiệm chức Cơ mật hành tẩu sung chức Tả trực kỳ khâm sai phái viên (tả trực kỳ: chỉ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị).

Năm Bính Tuất 1886 (năm Đồng Khánh nguyên niên) cụ lãnh chức Tu soạn kiêm Nghĩa Định Sơn phòng tán tương quân vụ. Trong năm này, cụ bị giáng chức lần thứ Nhất. Năm Thành Thái thứ 6 (1894), cụ lãnh chức Án Sát tỉnh Quảng Nam. Năm Thành Thái thứ 7 (1895), cụ lãnh chức Tán lý quân vụ bốn tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Năm Thành Thái thứ 8 (1896), cụ bị giáng chức 2 cấp (lần Hai), đưa về làm Bố chánh tỉnh Nghệ An. Cũng trong năm này, cụ bị gọi về kinh đô và bị giáng 4 cấp (giáng chức lần thứ Ba). Đến đây cụ quyết định từ quan.

Trong 12 năm làm quan (từ 1885- 1897), dưới ba triều vua Nguyễn: Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, cụ Lê Khiết đã 3 lần bị giáng chức. Điều đó chứng tỏ cụ có nhiều ưu tư và miễn cưỡng trong việc làm quan. Ưu tư của cụ là vì phải chứng kiến cảnh hai vị vua yêu nước là Hàm Nghi và Thành Thái bị phế truất và ông vua “bù nhìn” Đồng Khánh thì bị nhân dân khinh ghét. Trong khi đó, quan lại trong triều người chống Pháp, kẻ thì theo Pháp đàn áp các phong trào cách mạng của nhân dân. Để không bị trở thành tay sai của bọn cướp nước và bán nước cụ đã quyết định từ quan và tích cực tham gia phong trào Duy Tân với phương châm “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Cụ được xem là một trong những người khởi xướng phong trào “khất thuế, cự sưu”- là phong trào cách mạng rộng lớn của nhân dân các tỉnh miền Trung và nhân dân Quảng Ngãi chống ách sưu cao thuế nặng của thực dân Pháp, đỉnh cao là năm 1908.

Ngày 07/4/1908 cụ bị giặc bắt. Công sứ Đô- đê buộc cụ lên mặt thành kêu gọi dân chúng vãn vòng vây. Cụ cương quyết từ chối. Không lay chuyển được lòng cụ, ngày 23/4/1908, tại bờ sông Trà Khúc, bọn thực dân Pháp đã tuyên án xử chém cụ cùng với cụ Nguyễn Bá Loan.

Trước khi lên đoạn đầu đài, cụ đã có thái độ và khí phách hiên ngang với câu nói nổi tiếng đi vào lịch sử: “Cái vết nhơ của thân ta nửa đời trước đây nay được đem dòng máu ở cổ này chảy ra rửa sạch- thật là điều vinh hạnh cho ta”.

Cụ là tấm gương tiêu biểu cho lớp quan lại trí thức biết tỉnh ngộ quay về với nhân dân, với đất nước, sẵn sàng hy sinh tính mệnh vì nghĩa cả, là 1 trong số 45 nhân vật tiêu biểu của Quảng Ngãi qua các thời kỳ được ghi lại trong sách “Quảng Ngãi, đất nước- con người- văn hoá” do Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ngãi xuất bản và được ghi tên trong “Từ điển những nhân vật lịch sử” của Nhà xuất bản Văn Hoá, “Việt Nam nghĩa liệt sĩ” của Đặng Bằng Đoàn và là người được Chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu có thơ viếng khi bị sát hại.

(Theo QuảngNgãi.gov.vn)

BÌNH LUẬN