Làng Việt cổ dưới chân núi Dâu

274

Dưới chân núi Dâu thuộc xã Hành Tín Đông huyện Nghĩa Hành (Quảng Ngãi) có một ngôi làng mang tên Thiên Xuân. Đây được xem là ngôi làng cổ nhất hiện nay được các nhà khảo cổ học phát hiện.

Hiện trạng

Sáng ngày 6.7.2006, nhóm khảo cổ do Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi (Bảo tàng Quảng Ngãi) tiến hành đo đạc và khảo cứu một số hiện vật trong ngôi làng, bước đầu đã có những thông số tin cậy về độ “già” của ngôi làng cổ hiếm hoi còn sót lại ở Quảng Ngãi này. Chu vi của làng gần 1km vuông, bên ngoài có cổng làng, được đánh dấu qua những bậc tam cấp bằng đá còn sót lại, đường vào làng được trồng chè tàu, vẫn còn khá nhiều.

Bên trong ngôi làng hiện vẫn còn các ô được chia nhỏ vuông vắn, có thể đây là khuôn viên của từng gia đình với diện tích 200 mét vuông/hộ, được phân định bằng những kè đá, sắp xếp khá ngay ngắn. Rất nhiều loại cây vườn vẫn còn nguyên như khế, mít, dây trầu, đặc biệt là lá lốt rất nhiều. Trong làng hiện vẫn còn một giếng nước, thành giếng được xây bằng đá. Toàn bộ ngôi làng này được vây bọc bởi một hệ thống thành (không có hào) bằng đá rất vững chãi. Mặt thành rộng 1 mét, cao từ 2,5-3 mét, dọc theo phía bên trong dưới chân của thành được kè bằng một lớp đá rất phẳng, cao chừng 30 cm, như thể dành cho lính gác đi tuần tra được dễ dàng.

Quan sát kỹ, nhóm khảo cổ không phát hiện ra bất cứ một loại vôi vữa nào gắn kết giữa các tảng đá mà người ta chỉ chồng đá lên nhau, móc xích mấu của các tảng đá lại, tạo thành một khối rất vững chắc.

Một góc của bờ thành bằng đá. Ảnh: T.Đ

Bên ngoài thành, dưới chân núi Dâu, còn sót lại dấu vết của một đền thờ, dân ở đây gọi là “dinh Bà”, còn theo Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi thì đó là nơi thờ thần núi-một tập quán của người Việt cổ ở khu vực miền Trung, nhất là những làng ở gần núi cao như làng Thiên Xuân này. Ngôi miếu chỉ còn sót lại phần nền và một tảng đá, rộng khoảng 1 mét vuông, được mài nhẵn phần mặt, dùng làm nơi đặt lễ vật mỗi khi làng cúng tế. Làng dựa vào núi Dâu, nơi bắt nguồn vô số những khe suối. Núi Dâu giờ đã “xuống tóc” nên các dòng suối này đều cạn nước, song dấu vết về sự can thiệp của bàn tay dân làng thì rất rõ. Đường từ làng dẫn lên suối trên 1 km được kè bằng đá rất công phu.

Làng bao nhiêu tuổi?

Hiện vẫn chưa xác định một cách chắc chắn về tuổi thọ của làng vì các nhà khảo cổ còn phải tiến hành đào thám sát để tìm hiện vật như các loại gốm thì mới biết. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Khôi thì ngôi làng có chừng 400-600 năm tuổi, có thể là sự kế thừa từ những chủ nhân người Chăm. Quan sát dọc theo các suối cạn dẫn từ chân núi Dâu về làng thì thấy cả một sự chăm chút rất công phu của bàn tay con người.

Lòng các con suối dài hơn 1km này đều được xếp bằng đá cuội rất ngay ngắn và đẹp mắt-một sự kỳ công hiếm thấy ở các làng cổ người Việt. Theo nhận xét của các nhà nghiên cứu thì chỉ có người Chăm mới có hệ thống dẫn thủy độc đáo như thế, vừa chống xói lở, vừa “lọc” được tạp chất của nước qua lớp đá này.

Bệ thờ thần núi của làng. Ảnh: T.Đ

Tồn tại hàng trăm năm giữa lưng chừng núi, đột nhiên sau năm 1945, lần lượt những hộ dân xuống núi sau một trận dịch lớn. Ông Nguyễn Viễn, 75 tuổi, dân Thiên Xuân chính gốc nói: “Đời ông cố tôi kể rằng lũy làng được xây lâu lắm rồi nhưng mãi đến sau Cách mạng tháng Tám, nghe vận động của cách mạng, dân làng mới xuống định cư như ngày nay”. “Tục danh của làng là Khoái, tôi chẳng thấy khoái đâu mà chỉ thấy sốt rét với phù thũng nên người đời mới có câu: “Bất ẩm Thiên Xuân khê”, tức là không uống nước ở khe suối Thiên Xuân”-ông Viễn nói thêm.

Ngành văn hóa thông tin Quảng Ngãi đang gấp rút khảo cứu và lập hồ sơ để công nhận di tích cho ngôi làng này. Những bí ẩn của ngôi làng cổ còn phải được tiếp tục giải mã khi nhóm nghiên cứu chưa kết thúc công việc của mình tại đây.

Trần Đăng-Theo Baobinhdinh.com.vn

—————————————————

 

Sau nhiều lần điền dã và khảo sát, nhóm nghiên cứu khảo cổ học của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi đã phát hiện vết tích ngôi làng được cho là nơi sinh sống của hơn 40 hộ dân với đầy đủ các thiết chế của một ngôi làng Việt khoảng 600 năm về trước.

Dấu tích còn để lại là cổng làng, cây đa, giếng nước… và những phiến đá độc đáo; những dòng suối dẫn nước về làng… Theo Tiến sĩ khảo cổ học Đoàn Ngọc Khôi (Bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi) đây có thể được xem là một “Phước Tích” thứ hai của VN (làng cổ Phước Tích của tỉnh Thừa Thiên-Huế).

Dấu tích ngôi làng cổ này hiện nằm ở chân Núi Nứa thuộc thôn Thiên Xuân, xã Hành Tín Đông (huyện Nghĩa Hành).

Làng có tên Thiên Xuân, nằm sát bên tỉnh lộ 628 từ thành phố Quảng Ngãi đi huyện Ba Tơ ngang qua đèo Đá Chát, nối với quốc lộ 24 thông lên các tỉnh Tây Nguyên; chu vi làng gần 2km2 được vây bọc bởi một hệ thống thành (không có hào) bằng những phiến đá xếp rất vững chãi.

Mặt thành rộng 1m, cao từ 2,5 đến 3m. không phát hiện ra bất cứ một loại vôi vữa nào gắn kết giữa các tảng đá, mà chỉ là đá chồng đá, có chăng để tạo thành một khối và duy trì “mối liên hệ khăng khít” ấy là những mấu của các tảng đá do tự nhiên hay bàn tay con người tác động thì cho đến nay các nhà khảo cổ vẫn chưa có kết luận chính thức.

Các dấu tích còn lại cho thấy, bên ngoài lũy đá (trước đây) được trồng những bụi tre gai ken dày, theo quan niệm xưa nhằm chống lại thú dữ.

Phía nam của làng còn sót lại dấu vết một đền thờ, cũng theo Tiến sĩ Khôi thì đó là nơi thờ thần núi – một tập quán của người Việt cổ ở khu vực miền Trung, nhất là những làng ở gần núi cao như làng Thiên Xuân.

Ngôi miếu chỉ còn sót lại phần nền và một tảng đá, rộng khoảng 1m2, được mài nhẵn phần mặt, dùng làm nơi đặt lễ vật mỗi khi cúng tế.

Phía tây của làng (trước đây) là dòng sông Vệ uốn quanh tạo nên những vực xoáy, nước ở vực sâu khoảng 4-5m, tương truyền làng có tục danh là Xóm Xoáy (Khoái). Bên trong lũy thành vẫn còn dấu tích của tất cả các nền nhà, giếng nước, bình vôi, gốc khế, dây trầu không quấn quanh những thân cau thẳng tắp…

Các mảnh vườn trong làng được chia thành những ô nhỏ vuông vắn, mỗi ô rộng chừng 300m2, ngăn cách nhau cũng bằng những dãy tường đá được xếp thấp hơn nhiều so với lũy thành.

Trong từng mảnh vườn là các gốc khế, mít, sung, lá lốt… nay vẫn tồn tại với thời gian. Trước khi đến cổng làng, phải đi qua dãy đá tam cấp được xếp chồng lên nhau, bên gốc đa đầu làng còn dấu tích của cổng làng được làm bằng gỗ lim, phía Đông của làng chính là ngọn núi Nứa nằm trong dãy núi Vàng hùng vĩ.

Nước được dẫn về làng bằng những dòng suối nhỏ, lòng suối dài hơn 1km, được xếp bằng đá chồng đều lên nhau ngay ngắn và đẹp mắt – thật là một kỳ công hiếm thấy ở các làng cổ người Việt, một hệ thống dẫn thủy độc đáo, vừa chống xói lở, vừa “lọc” được tạp chất của nước qua lớp đá này.

Thiên Xuân bao nhiêu tuổi?

Đồ gốm phát hiện được tại Thiên Xuân minh chứng cho sự kế thừa giữa hai nền văn hóa Chăm và Việt trong buổi đầu khẩn hoang lập làng
Theo Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi, các nhà khảo cổ đang tiến hành đào thám sát để tìm hiện vật như các loại gốm thì mới biết chắc chắn được tuổi thọ của làng.
Đồ gốm phát hiện được tại Thiên Xuân
minh chứng cho sự kế thừa giữa hai nền văn hóa
Chăm và Việt trong buổi đầu khẩn hoang lập làng

Tuy nhiên, theo nhận định ban đầu, ngôi làng đã tồn tại chừng 400-600 năm (khoảng thế kỷ 15), có thể là sự kế thừa từ những chủ nhân người Chăm.

Theo sử chép thì vào thời điểm này, những cư dân Việt đến đây khẩn hoang lập làng dưới triều đại Hồ Quý Ly.

Sau sự kiện vua Chămpa tiến quân chiếm lại Chiêm Động và Cổ Lũy Động nhân Đế chế Minh Trung Hoa xâm chiếm Đại Việt, những cư dân gốc xứ Thanh – Nghệ – Tĩnh bị kẹt lại ở đây. Và, họ đã lập làng cố thủ ở vùng đất bán sơn địa này.

Ông Hồ Trọng Tấn, một cư dân của làng, 84 tuổi, cho biết, đến đời ông là cháu đời thứ 6 của họ Hồ. Làng Thiên Xuân này có bốn tộc họ Nguyễn, Hồ, Lê, Đoàn là những họ tiền hiền đến đây khẩn hoang lập làng. Sau năm 1945, vì nhiều lẽ khác nhau, trong đó theo lời kể lại của một số người cao tuổi ở làng, một trận dịch bệnh đã làm chết nhiều người và cư dân làng phải chuyển xuống vị trí làng hiện giờ cách đó không xa, sát với dòng sông Vệ (đã đổi dòng) hiện nay.

Còn ông Nguyễn Thành, 75 tuổi, dân Thiên Xuân chính gốc, nói: “Đời ông cố tôi kể rằng lũy làng được xây lâu lắm rồi nhưng mãi đến sau Cách mạng tháng Tám, nghe vận động của cách mạng, dân làng mới xuống định cư như ngày nay”.

Sau khi phát hiện, Bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức đào thám sát tại bến nước của làng. Tại hiện trường, ngoài các loại bình vôi còn có các lớp gốm Việt, dưới các lớp gốm là bộ xương thú còn khá nguyên vẹn. Theo ông Đoàn Ngọc Khôi, việc sử dụng các loại gốm ở Thiên Xuân là sự kế tục giữa văn hóa Chăm và văn hóa Việt ngay từ buổi ban đầu khẩn hoang lập làng.

Để bảo tồn và gìn giữ, Bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi và huyện Nghĩa Hành đang phối hợp đo đạc và lập hồ sơ đề nghị công nhận làng cổ Thiên Xuân là di tích lịch sử văn hóa. Làng cổ Thiên Xuân được phát hiện đã thu hút sự chú ý của Trường Viễn đông bác cổ tại VN, một đoàn cán bộ nghiên cứu của trường – dẫn đầu là ông Andrew Hardy – Trưởng đại diện đã đến tận nơi tìm hiểu ngôi làng này. Ông đánh giá khá cao giá trị lịch sử của ngôi làng và cho rằng nó sẽ giúp ích nhiều cho giới khảo cổ học VN trong việc nghiên cứu các ngôi làng cổ ở khu vực miền Trung.

Theo HÀ MINH – Sài Gòn giải phóng

BÌNH LUẬN